Global Vietnamese AI Nexus
Giới thiệu chung
Hình thành cộng đồng chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực AI, có khả năng kết nối và huy động hiệu quả tri thức trong nước và quốc tế, phục vụ trực tiếp các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với các bài toán thực tiễn tại Việt Nam; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được triển khai đồng bộ, gắn kết với hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.
CÁC CHUYÊN GIA ĐẦU NGÀNH
Hơn 1,000 chuyên gia trên toàn thế giới đang sẵn sàng hỗ trợ Bạn
GS.TS. Lê Sỹ Vinh
GS.TS. Huỳnh Thị Thanh Bình
GS.TSKH. Trần Hoài Linh
PGS.TS. Nguyễn Văn Núi
Sự kiện sắp tới
Xem tất cảHOẠT ĐỘNG TRỌNG TÂM
Chiến dịch dữ liệu đất đai mở đường cho chuyển đổi số
Sau 90 ngày triển khai trên phạm vi toàn quốc, Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về đất đai do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo nền tảng dữ liệu số thống nhất, “đúng - đủ - sạch - sống”, phục vụ quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính và phát triển Chính phủ số. “Nền móng dữ liệu” cho quản lý đất đai Ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, CSDL đất đai được xây dựng qua nhiều giai đoạn, nhiều mô hình và phần mềm khác nhau, với chất lượng dữ liệu không đồng đều. Trước khi triển khai Chiến dịch, cả nước có hơn 62 triệu thửa đất đã có dữ liệu ở các định dạng khác nhau, nhưng chỉ khoảng 39% đáp ứng yêu cầu “đúng - đủ - sạch - sống”; phần lớn còn thiếu thông tin, trùng lặp, sai lệch hoặc chưa được xác thực với CSDL quốc gia về dân cư. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 214/NQ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 515/KH-BCA-BNN&MT, Chiến dịch được triển khai với tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”, huy động sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là lực lượng công an cấp xã. Trong thời gian ngắn, khối lượng công việc triển khai là rất lớn: rà soát, phân loại gần 50 triệu thửa đất tại hơn 2.300 đơn vị hành chính cấp xã; thu thập, số hóa hàng triệu Giấy chứng nhận; xác thực thông tin chủ sử dụng đất với CSDL quốc gia về dân cư; đồng bộ dữ liệu từ địa phương về Trung ương và kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia. Kết quả đã vượt mục tiêu đề ra. Tổng số thửa đất được rà soát, làm giàu, làm sạch đạt hơn 61,7 triệu thửa, trong đó 24,3 triệu thửa đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, sẵn sàng kết nối, chia sẻ và khai thác dùng chung. Hơn 18,7 triệu thửa đã được xác thực thông tin chủ sử dụng đất; số còn lại đang tiếp tục được rà soát, chỉnh lý. Đáng chú ý, 100% tỉnh, thành phố đã hoàn thành đồng bộ CSDL đất đai về CSDL quốc gia, với gần 98% tổng số thửa đất được tích hợp. Lần đầu tiên, dữ liệu đất đai trên phạm vi toàn quốc được tập trung, thống nhất, tạo điều kiện để vận hành theo thời gian thực. Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính Một điểm nhấn quan trọng của Chiến dịch là việc kết nối, xác thực thông tin người sử dụng đất với CSDL quốc gia về dân cư. Bộ Công an đã phối hợp tổ chức đối khớp hơn 87 triệu lượt dữ liệu, qua đó xác thực thành công thông tin của hơn 38 triệu thửa đất. Cùng với đó, lần đầu tiên Mã định danh duy nhất thửa đất được tạo lập cho gần 70 triệu thửa, khắc phục tình trạng trùng lặp, thiếu thống nhất, tạo nền tảng tích hợp với Nền tảng địa chỉ số quốc gia và các hệ thống định danh khác. Khi dữ liệu được làm sạch và vận hành thông suốt, nhiều địa phương đã chủ động tái cấu trúc quy trình, cắt giảm mạnh thời gian và thành phần hồ sơ giấy. Một số tỉnh như An Giang, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hải Phòng, Đắk Lắk đã triển khai toàn trình điện tử nhiều thủ tục, rút ngắn từ 30% thời gian giải quyết trở lên so với quy định. CSDL đất đai được kết nối với Cổng dịch vụ công, cơ quan thuế, hệ thống giao dịch bảo đảm…, hình thành quy trình khép kín, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Việc gắn dữ liệu đất đai với căn cước công dân không chỉ nâng cao tính pháp lý, độ tin cậy của CSDL mà còn mở ra khả năng tái sử dụng dữ liệu, cắt giảm giấy tờ, đơn giản hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất. Cập nhật liên tục, không để "dữ liệu chết" Từ kết quả Chiến dịch, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai Mai Văn Phấn cho rằng, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tiếp theo là duy trì, vận hành và phát huy hiệu quả CSDL đất đai đã được làm giàu, làm sạch, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Trọng tâm là sử dụng ngay dữ liệu đã có để phục vụ quản lý đất đai, chia sẻ, kết nối liên thông với các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và giải quyết thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp. Cùng với đó, việc tiếp tục hoàn thiện dữ liệu theo tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”, bổ sung dữ liệu lịch sử, bảo đảm phản ánh đầy đủ hiện trạng và quá trình sử dụng đất là yêu cầu cấp thiết. Mọi biến động đất đai phải được cập nhật theo thời gian thực; chất lượng dữ liệu cần được giám sát, cảnh báo tự động để kịp thời phát hiện và xử lý sai lệch. Song song với duy trì dữ liệu đã có, các bộ, ngành và địa phương cần tập trung nguồn lực đo đạc, lập bản đồ địa chính, xây dựng CSDL đất đai tại những khu vực còn “trắng” dữ liệu, vùng khó khăn; lựa chọn phương án đầu tư phù hợp, kết hợp nguồn vốn đầu tư công và đối tác công tư để bảo đảm tiến độ. Việc hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai tập trung, thống nhất, đa mục tiêu cũng đòi hỏi thống nhất nền tảng phần mềm dùng chung trên toàn quốc, bảo đảm đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; đồng thời xây dựng cơ chế tài chính phù hợp cho việc khai thác, cung cấp dịch vụ thông tin đất đai. Đặc biệt, yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu phải được đặt ở mức độ ưu tiên cao, với hệ thống phân quyền chặt chẽ, giám sát truy cập, kiểm tra, diễn tập định kỳ, bảo vệ an toàn dữ liệu đất đai – một trong những tài sản số quan trọng của quốc gia. Để bảo đảm đến năm 2026 hoàn thành xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đồng bộ, đa mục tiêu và kết nối liên thông, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các bộ, ngành, địa phương. Việc ưu tiên nguồn lực tài chính, hỗ trợ các địa phương còn khó khăn về kinh phí; hoàn thiện cơ chế thu – trả phí khai thác hệ thống thông tin đất đai; cho phép vận dụng linh hoạt các nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là những điều kiện then chốt. Cùng với đó, trách nhiệm của địa phương trong việc lựa chọn, sử dụng thống nhất phần mềm quản lý đất đai trên phạm vi toàn tỉnh; bảo đảm tiến độ, chất lượng xây dựng CSDL đất đai cần được xác định rõ, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. "Có thể nói, chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch CSDL đất đai đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị. Kết quả đạt được là nền tảng quan trọng để tiếp tục xây dựng CSDL đất đai hiện đại, thống nhất, dùng chung, phục vụ hiệu quả người dân, doanh nghiệp và chính quyền các cấp", ông Phấn nói. Quan trọng hơn, Chiến dịch khẳng định một thông điệp xuyên suốt: quản lý đất đai trong giai đoạn mới phải dựa trên dữ liệu số thống nhất, minh bạch và được khai thác thực chất. Khi dữ liệu đất đai trở thành trụ cột của quản trị quốc gia, việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi pháp luật và cải cách thủ tục hành chính sẽ hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững và xây dựng Chính phủ số hiện đại.
Biết dùng AI - tiêu chí tuyển dụng mới của công ty công nghệ Việt
Biết dùng AI chưa phải điều kiện bắt buộc, nhưng đang trở thành thước đo, điểm cộng trong quá trình tuyển dụng của nhiều công ty công nghệ trong nước. Minh Quân (27 tuổi, Hà Nội) bước vào buổi phỏng vấn vị trí lập trình viên tại một startup công nghệ tài chính với tâm thế tự tin. Gần bốn năm kinh nghiệm giúp anh trả lời trơn tru loạt câu hỏi chuyên môn. Nhưng đến cuối buổi, một câu hỏi ngắn khiến anh khựng lại: "Bạn sử dụng AI như thế nào trong công việc?". Quân trả lời có dùng ChatGPT để tra cứu và hỗ trợ viết code, nhưng không thường xuyên vì muốn tự làm để hiểu kỹ hơn. Sau buổi phỏng vấn, anh nhận email từ chối với lý do "chưa phù hợp với cách làm việc của nhóm", vì công ty ưu tiên ứng viên biết khai thác AI tối đa. "Không phải tôi thiếu kỹ năng, mà do không hợp với văn hóa mới thay đổi", Quân nói. Trong làn sóng AI đang lan rộng, nhiều doanh nghiệp công nghệ bắt đầu điều chỉnh cách đánh giá ứng viên, không chỉ dựa vào năng lực chuyên môn, mà còn ở cách họ tận dụng các công cụ để làm việc. Bà Nguyễn Hồng Hạnh, Giám đốc nhân sự của G-Group, cho biết AI được "thúc đẩy và khuyến khích sử dụng rộng rãi" trong công ty. Ở một số vị trí, đặc biệt là công nghệ và nhân sự, AI gần như trở thành "công cụ mặc định". Với những mảng khác, trí tuệ nhân tạo được sử dụng linh hoạt theo đặc thù công việc. Ví dụ, đội pháp chế dùng AI tóm tắt văn bản, rà soát hợp đồng, văn phòng dùng để soạn thông báo, biên bản, tổng hợp đầu việc. Trong khi đó, bộ phận kinh doanh dùng để nghiên cứu khách hàng, soạn email, chăm sóc qua hệ thống tổng đài tự động. Cách làm việc mới cũng kéo theo thay đổi trong tuyển dụng. Bà Hạnh cho biết họ chưa quy định cứng, nhưng với vị trí liên quan đến công nghệ, yếu tố "biết dùng AI" thường được đánh giá trong quá trình phỏng vấn. Ứng viên sẽ được chấm điểm cao nếu biết tận dụng AI để giải quyết bài toán thực tế, đặt ra yêu cầu rõ ràng, kiểm chứng kết quả và hiểu giới hạn của công cụ. "Nếu hai ứng viên có nền tảng chuyên môn tương đương, người biết tận dụng AI hiệu quả sẽ có lợi thế rõ rệt", bà nói. Ở chiều ngược lại, phụ thuộc quá vào AI cũng không tốt, có thể bị đánh giá thấp nếu không hiểu bản chất vấn đề, không kiểm chứng thông tin hoặc không thể tự xử lý khi không có công cụ hỗ trợ. Trong khi đó, bà Trần Xuân Ngọc Thảo, Giám đốc nhân sự và truyền thông VNG, cho biết kỹ năng AI chưa phải yêu cầu bắt buộc, nhưng ứng viên sẽ được đặt câu hỏi liên quan đến cách tiếp cận và ứng dụng AI trong công việc thực tế. "Điều chúng tôi tìm kiếm ở một ứng viên là tư duy - cách nhìn nhận vấn đề, mức độ sẵn sàng học hỏi và khả năng thích nghi chứ không phải việc thành thạo một công cụ cụ thể nào đó", bà nói. Bà cho biết, từ 2025, công ty bắt đầu cung cấp tài khoản AI cho một số cá nhân hoặc đội nhóm có nhu cầu. Chính sách đã phát huy hiệu quả, khi một dự án phần mềm vốn cần ba người thực hiện trong 1,5 tháng nay có thể hoàn thành trong chưa đầy 20 giờ. Theo Giám đốc nhân sự này, AI khiến việc nảy sinh ý tưởng trở nên dễ dàng và phổ cập hơn. Khi ý tưởng không còn là thứ khan hiếm, khả năng thực thi - tốc độ đưa ý tưởng thành sản phẩm thực tế mới là lợi thế cạnh tranh thực sự. Một ứng viên biết tận dụng AI để làm được nhiều hơn, nhanh hơn và chính xác hơn không chỉ cho thấy việc sử dụng tốt một công cụ, mà còn chứng minh họ phù hợp với cách thức vận hành của thời đại mới. Theo dữ liệu từ nền tảng tuyển dụng TopCV, các doanh nghiệp IT đều xác nhận AI đang tác động mạnh mẽ đến họ, thay đổi ngành công nghiệp này, từ cách tổ chức công việc đến tạo sản phẩm. Tỷ lệ doanh nghiệp cảm nhận rõ sự tác động là 42,86% ở nhóm gia công phần mềm (IT Outsourcing), 40,9% ở nhóm dịch vụ (IT Service) và 37,5% ở nhóm tư vấn công nghệ thông tin (IT Consulting). Xu hướng này không chỉ diễn ra tại Việt Nam, khi nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã đưa việc sử dụng AI vào tiêu chí tuyển dụng và mô tả công việc (JD). Theo dữ liệu đầu năm 2026 từ LinkedIn, số tin tuyển dụng đề cập kỹ năng AI tăng 70% so với năm trước. Trong khi đó, nghiên cứu do đại học Cornell (Mỹ) thực hiện năm nay với hơn 1.700 nhà tuyển dụng tại Mỹ và Anh cho thấy, ứng viên sở hữu khả năng vận dụng AI tốt hơn có cơ hội được mời phỏng vấn cao hơn 8-15% so với người có nền tảng chuyên môn tương đương. Nhu cầu tuyển dụng liên quan đến AI cũng tăng nhanh những năm qua. Báo cáo của công ty phân tích dữ liệu về thị trường lao động Lightcast ghi nhận số tin tuyển dụng đề cập AI tạo sinh tăng từ vài chục vị trí năm 2021 lên gần 10.000 vào năm 2025. Ngoài ra, khả năng sử dụng công cụ AI cũng xuất hiện trong mô tả công việc, kể cả với vị trí không thuần kỹ thuật. Một số tổ chức như McKinsey đưa AI trực tiếp vào bài đánh giá tuyển dụng, yêu cầu ứng viên dùng công cụ để xử lý tình huống cụ thể. Trong bối cảnh đó, "biết dùng AI" không còn là tiêu chí bổ sung, mà trở thành yếu tố bộc lộ rõ sự khác biệt giữa các ứng viên ngay trong quá trình phỏng vấn. Từ phía người lao động tại Việt Nam, mức độ nhận thức và sẵn sàng thích nghi với AI cũng có xu hướng tăng. Chỉ 14% tự nhận chưa từng sử dụng AI, thậm chí tỷ lệ này chỉ 6% ở nhóm IT - phần mềm. Giới công nghệ dùng AI chủ yếu để tra cứu kiến thức chuyên sâu, viết tài liệu kỹ thuật và hỗ trợ lập trình. 96,8% người làm IT có định hướng rõ ràng về vai trò của bản thân trong môi trường mới, theo khảo sát của TopCV. Trong khi đó, nhóm ngoài công nghệ tận dụng AI cho các tác vụ mang tính sáng tạo như viết nội dung, phân tích dữ liệu.
Đề xuất lập mạng lưới chuyên gia AI Việt toàn cầu
Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất lập mạng lưới chuyên gia AI Việt trên toàn cầu, kết nối lực lượng trong và ngoài nước để giải các bài toán quốc gia. Đề án "Thành lập và phát triển mạng lưới chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam toàn cầu" vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo gửi Thường trực Ban Chỉ đạo 57. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, mạng lưới sẽ như công cụ huy động, kết nối đội ngũ chuyên gia AI trong và ngoài nước, tham gia trực tiếp vào các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với bài toán quốc gia. Bộ đề xuất được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức triển khai Đề án. Đề án tập trung xây dựng một mô hình kết nối và huy động nguồn lực chuyên gia AI trong và ngoài nước, theo hướng tích hợp giữa nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng. Cụ thể, mạng lưới được tổ chức theo hướng mở, linh hoạt, cho phép chuyên gia tham gia theo nhiều hình thức và gắn với các nhiệm vụ, dự án cụ thể. Các chương trình hành động dự kiến tập trung vào dẫn dắt và phát triển tài năng thông qua cơ chế chuyên gia hướng dẫn trực tiếp, đào tạo chuyên sâu và ươm tạo đội ngũ nghiên cứu trẻ; thúc đẩy nghiên cứu gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và khu vực công, hỗ trợ hình thành ra sản phẩm và thương mại hóa kết quả; phát triển các dự án công nghệ chiến lược, có ý nghĩa cạnh tranh quốc gia. Theo Đề án này, Diễn đàn AI Việt Nam toàn cầu sẽ được tổ chức hàng năm để công bố kết quả nghiên cứu, giới thiệu sản phẩm công nghệ, kết nối đầu tư và thu hút nguồn lực quốc tế. Bên cạnh đó, một nền tảng số cũng sẽ được xây dựng để quản lý cơ sở dữ liệu chuyên gia, điều phối nhiệm vụ và theo dõi kết quả. Về tổ chức, Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò chủ trì, định hướng và ban hành cơ chế chính sách. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia là cơ quan thường trực, trực tiếp triển khai và điều phối hoạt động, kết nối nguồn lực.  *Robot hình người do Việt Nam phát triển trình diễn tại sự kiện AI4VN 2025. Ảnh: Giang Huy* Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, AI tại Việt Nam những năm qua có bước phát triển tích cực. Doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng khởi nghiệp tham gia "ngày càng rõ nét". Một số sản phẩm, giải pháp AI đã được triển khai trong các lĩnh vực như tài chính, thương mại điện tử, y tế, giáo dục và quản lý đô thị. Trong nước, nhiều nhóm nghiên cứu và đội ngũ kỹ sư có năng lực tiếp cận công nghệ mới cũng được hình thành. Tuy vậy, xét về tổng thể, năng lực phát triển AI vẫn còn hạn chế. Nguồn nhân lực, đặc biệt là chuyên gia trình độ cao còn phân tán. Kết nối giữa các tổ chức trong nước với cộng đồng quốc tế, nhất là chuyên gia người Việt ở nước ngoài chưa hiệu quả. Liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cũng chưa chặt chẽ. Nhiều kết quả nghiên cứu chưa gắn với nhu cầu thực tiễn, khiến khả năng chuyển giao và thương mại hóa còn hạn chế. Việt Nam cũng chưa hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng dẫn dắt ở tầm khu vực hoặc quốc tế. Trong khi đó, hoạt động đào tạo nhân lực AI chưa gắn chặt với nghiên cứu và triển khai thực tế. Các chương trình, nhiệm vụ liên quan đến AI hiện chủ yếu triển khai theo từng lĩnh vực, từng đơn vị, thiếu cơ chế điều phối ở quy mô quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ nhìn nhận, Việt Nam không thiếu tiềm năng về con người và ý tưởng, nhưng thiếu một cơ chế hiệu quả để kết nối và khai thác nguồn lực tri thức có hệ thống. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã triển khai thành công mô hình mạng lưới trong phát triển AI, như Viện Alan Turing của Anh, mạng lưới ELISE của Liên minh châu Âu hay Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Singapore. Từ thực trạng đó, việc thành lập mạng lưới chuyên gia AI Việt Nam toàn cầu là "yêu cầu cấp thiết" nhằm tạo cơ chế hiệu quả để huy động, kết nối và phát huy nguồn lực trí tuệ trong và ngoài nước. Thông qua Đề án, Bộ Khoa học và Công nghệ kỳ vọng hình thành hệ sinh thái kết nối tri thức AI ở quy mô quốc gia, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển công nghệ, thúc đẩy phát triển các sản phẩm có giá trị thực tiễn và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực AI.
'Ai cũng có thể bắt đầu hành trình nghiên cứu khoa học'
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân khuyến khích người trẻ dấn thân vào khoa học, nhấn mạnh "ai cũng có thể làm nghiên cứu". Thông điệp được ông chia sẻ tại hội nghị gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo và đoàn viên thanh niên 4V1M, chiều 19/5 ở Hà Nội. Chương trình có sự tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng bốn đơn vị nghiên cứu, đào tạo lớn gồm Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP HCM. Đầu phần đối thoại, Bộ trưởng dành thời gian kể về hành trình đến với khoa học của mình. Khi còn là sinh viên năm ba, ông tham gia chương trình nghiên cứu khoa học Euréka do Thành đoàn TP HCM tổ chức. "Chính phong trào đó giúp tôi định hình nghiên cứu khoa học là gì, và có lẽ mình nên đi theo con đường nghiên cứu khoa học", ông nói. Điều ông trăn trở là làm sao ngày càng nhiều bạn trẻ đi theo con đường khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bởi nếu không, đất nước khó phát triển. Trò chuyện với đoàn viên, Bộ trưởng trở về vai một người thầy, trả lời ba câu hỏi mà sinh viên thường đặt ra cho ông: "Em có làm nghiên cứu được không?", "Em phải bắt đầu như thế nào?" và "Liệu em có thành công không?". Ông kể mình từng là học sinh một trường huyện ngoài Bắc, sau đó vào TP HCM học đại học với vô vàn khó khăn, tiếng Anh không biết. Đến năm thứ ba, khi được giao đề tài về đồ họa máy tính, để đọc hiểu sách tiếng Anh, ông đi mua từ điển rồi tự dịch. "Ban đầu rất khó, nhưng lặp đi lặp lại, dần dần đọc được, hiểu được các thuật toán. Đó là lúc tôi bắt đầu bập bẹ làm nghiên cứu, bắt đầu từ việc đọc sách", ông nói. Theo ông, nếu đạt một mức sàn nhất định, thi đậu đại học với một số điểm nhất định, "chúng ta đều có thể làm khoa học". Do đó, ông khuyến khích người trẻ bắt đầu hành trình nghiên cứu. Với câu hỏi bắt đầu thế nào, Bộ trưởng cho rằng người trẻ không nên chọn ngay bài toán quá lớn, mà bắt đầu từ "một thách thức nhỏ và một chiến thắng nhỏ" để tạo ra động lực tiếp tục hành trình. Về khả năng thành công, ông nhắc tới yếu tố phải có của người làm khoa học, gồm tầm nhìn - biết mình muốn trở thành một người như thế nào; một tâm thế mở - luôn chịu khó, luôn kiên trì rèn luyện; đáp ứng quy tắc 10.000 giờ làm việc trong một lĩnh vực để trở thành chuyên gia; xây dựng các mối quan hệ học thuật và cuối cùng là phải có một kế hoạch hành động cụ thể. Bộ trưởng cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ có các chương trình hỗ trợ cho sinh viên tài năng, nhà khoa học trẻ và học viên cao học, dự kiến triển khai từ tháng 9. Các chương trình này sẽ giúp người trẻ có "một line riêng", thay vì phải cạnh tranh trực tiếp với các nhà khoa học đầu ngành. **Người trẻ ngày càng quan tâm đến khoa học** Không khí đối thoại sôi nổi tại diễn đàn 4V1M cho thấy người trẻ đang quan tâm nhiều hơn tới nghiên cứu khoa học, từ nghiên cứu cơ bản, thương mại hóa kết quả nghiên cứu đến việc đưa công nghệ vào thực tiễn. Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội Lê Khánh Trình đặt câu hỏi về cơ chế thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp spin-off trong trường đại học. Tiến sĩ trẻ Đỗ Thu Trang quan tâm làm sao để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm với nhu cầu thực tiễn của xã hội. Trong khi đó, Lê Hoài Nam, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đặt vấn đề, liệu những thay đổi gần đây có làm giảm sự đầu tư dành cho lĩnh vực này.  *Đoàn viên thanh niên 4V1M chia sẻ vấn đề quan tâm và đặt câu hỏi với lãnh đạo. Ảnh: Trọng Đạt* PGS. TS Phạm Bảo Sơn, Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, để có thể thương mại hóa kết quả nghiên cứu, trước hết nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã bổ sung nhiều cơ chế mới, như trường đại học và nhà khoa học được quyền khai thác tài sản trí tuệ tạo ra từ nhiệm vụ khoa học công nghệ, còn tác giả được hưởng 30% nguồn thu từ việc khai thác tài sản này. "Đây là những cơ chế quan trọng để tạo động lực cho các nhà khoa học thương mại hóa kết quả nghiên cứu", PGS Sơn nói. Trong khi đó, GS. TS Trần Tuấn Anh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng điều quan trọng nhất để đưa nghiên cứu vào thực tiễn là "sự kết nối", tức phải bám sát nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Khi hình thành được hệ sinh thái kết nối chặt chẽ, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao vào sản xuất nhanh hơn. Với câu hỏi về nghiên cứu cơ bản, PGS. TS Nguyễn Đức Minh, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam khẳng định, lĩnh vực nào cũng cần nghiên cứu nền tảng, từ toán học đến khoa học xã hội. "Nghiên cứu cơ bản chính là làm nhiệm vụ xây dựng nền móng", ông nói, thêm rằng đây là yếu tố tạo ra sự bền vững và căn cơ cho khoa học công nghệ. Ông nhấn mạnh, nghiên cứu cơ bản thường không tạo ra lợi ích hữu hình ngay lập tức như sản phẩm công nghệ, vì vậy cần sự đầu tư của Nhà nước cũng như sự kiên trì của nhà khoa học theo đuổi lĩnh vực. Đồng quan điểm, PGS. TS Nguyễn Minh Tâm, Phó giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM, cho biết đơn vị "rất quan tâm" tới khoa học cơ bản. Theo ông, những quốc gia có công nghệ phát triển mạnh đều có nền khoa học cơ bản vững chắc. Bên cạnh chương trình nghiên cứu ứng dụng, Đại học Quốc gia TP HCM vẫn có những chương trình riêng dành cho lĩnh vực này. Khép lại diễn đàn, nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, đoàn thanh niên các đơn vị thuộc khối 4V1M đã ký ghi nhớ hợp tác thúc đẩy nghiên c
Vận hành nền tảng truyền số liệu riêng cho cơ quan Đảng, Nhà nước
Nền tảng CPT Speedtest được Cục Bưu điện Trung ương phát triển, giúp cán bộ chuyên trách có thể tự đo, kiểm tra trực quan chất lượng kết nối của mạng truyền số liệu chuyên dùng theo thời gian thực. Nền tảng đo tốc độ truy cập mạng truyền số liệu chuyên dùng (CPT Speedtest) được giới thiệu trong khuôn khổ hội nghị tập huấn triển khai kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước khu vực phía Bắc, tại Hải Phòng, hôm 14/5. Mạng truyền số liệu chuyên dùng (TSLCD) là mạng kết nối các cơ quan Đảng, Nhà nước, được tổ chức, quản lý thống nhất, bảo đảm chất lượng, an toàn, bảo mật thông tin để trao đổi, chia sẻ dữ liệu. Theo Cục Bưu điện Trung ương (Bộ Khoa học và Công nghệ), nền tảng CPT Speedtest cho phép cán bộ có thể đo tốc độ, kiểm tra chất lượng ở bất kỳ máy tính nào kết nối mạng TSLCD, và nhìn thấy kết quả trực quan, thời gian thực. Dữ liệu được thu thập tự động, lưu trữ tập trung tại Cơ sở dữ liệu của Cục, phân tích, thống kê và chia sẻ cho đối tượng sử dụng cũng như phục vụ công tác quản lý, vận hành, phát triển mạng TSLCD. Để hệ thống vận hành hiệu quả, Cục Bưu điện Trung ương phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng tập huấn cho các cán bộ trực tiếp làm về công nghệ thông tin, chuyển đổi số, cơ yếu của các cơ quan, đơn vị. Tại đây, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Ban Cơ yếu Chính phủ, các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng và một số doanh nghiệp viễn thông, đã có những chia sẻ nhằm làm rõ bức tranh toàn cảnh về mạng TSLCD hiện nay. Trước đó, tháng 9/2025, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33 về mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước. Theo đó, mạng TSLCD được mở rộng từ Trung ương đến cấp xã là hạ tầng dùng chung, thống nhất, phục vụ toàn bộ các cơ quan trong hệ thống chính trị, phân hệ mật truyền đưa bí mật nhà nước. Để cụ thể hóa nhiệm vụ, ngày 30/3, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 06 hướng dẫn triển khai quyết định trên, với các nội dung như đăng ký kết nối theo kế hoạch năm, giai đoạn 5 năm; đảm bảo an toàn, an ninh mạng; phối hợp trong công tác quản lý, sử dụng.  *Cục trưởng Cục Bưu điện Trung ương Nguyễn Hồng Thắng phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Phương Thảo* Tại hội nghị, Cục trưởng Cục Bưu điện Trung ương Nguyễn Hồng Thắng cho biết trong giai đoạn 2026-2030, Cục sẽ tập trung đầu tư phát triển mạng TSLCD với công nghệ hiện đại, băng thông rộng, chất lượng dịch vụ tốt nhất, an toàn cao nhất để đáp ứng nhu cầu phát triển, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số. Ngoài ra, Cục sẽ hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật; tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ các cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai.
Hội thảo Ứng dụng AI trong nông nghiệp thông minh
AI đang nhanh chóng trở thành công cụ quan trọng trong nông nghiệp hiện đại, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác. Nhờ AI, việc giám sát cây trồng, dự báo thời tiết, phát hiện sâu bệnh sớm và quản lý tài nguyên trở nên chính xác và nhanh chóng hơn. [Ứng dụng AI trong nông nghiệp](https://hocvienmarketingonline.com/ung-dung-ai-tri-tue-nhan-tao-trong-nong-nghiep) là việc ứng dụng các công nghệ thông minh như học máy (Machine Learning), xử lý dữ liệu lớn (Big Data) và cảm biến tự động để tối ưu hóa quy trình sản xuất nông nghiệp. ## Ứng dụng AI trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay Dự báo thời tiết và giá cả Vai trò của trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp không chỉ cải tiến quy trình sản xuất mà còn dự báo thời tiết và giá cả, giúp nông dân tối ưu hóa hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh tế. Các thuật toán AI sử dụng dữ liệu vệ tinh, hệ thống cảm biến và thông tin từ các trạm thời tiết để dự báo chính xác các biến động khí hậu như hạn hán, mưa lớn hay nhiệt độ bất thường.  Ví dụ, tại Đồng bằng sông Cửu Long, AI đã được áp dụng để dự đoán mùa lũ, giúp nông dân điều chỉnh kế hoạch gieo trồng và thu hoạch, tránh thiệt hại do ngập úng. Bên cạnh đó, AI còn phân tích dữ liệu thị trường và thông tin cung cầu để dự báo giá cả nông sản. Một ví dụ cụ thể là AI có thể dự đoán giá lúa gạo dựa trên các yếu tố như thời tiết, sản lượng thu hoạch và nhu cầu xuất khẩu, giúp nông dân chọn thời điểm bán ra hợp lý nhất để đạt lợi nhuận tối đa. Công nghệ này cũng hỗ trợ nông dân ở Tây Nguyên trong việc dự báo giá cà phê, từ đó điều chỉnh lượng sản xuất và thời điểm bán hàng, tránh tình trạng “được mùa, mất giá”. Giám sát sức khỏe đất AI đang cách mạng hóa việc giám sát sức khỏe đất thông qua các cảm biến thông minh, giúp nông dân quản lý tưới tiêu và bón phân một cách hiệu quả hơn.  Các cảm biến AI có khả năng thu thập dữ liệu chi tiết về độ ẩm, pH, dinh dưỡng và cấu trúc đất theo thời gian thực. Sau đó, AI phân tích các thông số này, từ đó đưa ra những dự báo và khuyến nghị chính xác về lượng nước và phân bón cần thiết cho từng vùng trồng trọt. Ví dụ, nếu cảm biến phát hiện đất quá khô hoặc thiếu dinh dưỡng, AI sẽ tự động điều chỉnh hệ thống tưới tiêu và đề xuất lượng phân bón phù hợp, giúp cây trồng phát triển tối ưu mà không gây lãng phí tài nguyên. Điều này không chỉ nâng cao hiệu suất sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường như rửa trôi chất dinh dưỡng và ô nhiễm nước ngầm.. Robot nông nghiệp Các robot nông nghiệp được trang bị công nghệ AI và cảm biến tiên tiến có thể thực hiện các tác vụ phức tạp như gieo hạt, thu hoạch, cắt tỉa và làm cỏ với độ chính xác cao và tốc độ nhanh hơn con người. Tương lai của AI trong nông nghiệp Trong tương lai, AI sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển các giải pháp nông nghiệp cá nhân hóa, giúp nâng cao năng suất và đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng nông trại. AI cũng sẽ đóng góp lớn vào việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực toàn cầu bằng cách cải thiện năng suất cây trồng và tối ưu hóa chuỗi cung ứng nông nghiệp. Bằng việc dự đoán thời tiết, phát hiện sớm sâu bệnh và quản lý tài nguyên hiệu quả, AI có thể giúp tăng sản lượng nông sản, đảm bảo cung cấp lương thực ổn định cho dân số toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Ứng dụng AI trong nông nghiệp đang dẫn dắt ngành tiến vào một kỷ nguyên mới, nơi công nghệ không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn đảm bảo phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về lương thực trên toàn cầu. Nhờ khả năng cá nhân hóa và cải thiện quy trình sản xuất, AI sẽ là chìa khóa giúp giải quyết các thách thức lớn về an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững trong tương lai. Học Viện Marketing Online Hotline/Zalo: 0878 779 111 Trụ sở 1: CT5- X2 KĐT Linh Đàm- Hoàng Mai- Hà Nội Trụ sở 2: 67 Nam Dư- Hoàng Mai- Hà Nội Youtube: [](https://www.youtube.com/c/H%E1%BB%8DcVi%E1%BB%87nMarketingOnlineNo1) Fanpage: [](https://www.facebook.com/HocVienMarketingOnline89?locale=vi_VN)
TIN TỨC
Xem thêmMạng lưới
Vui lòng nhấn vào đây để tham gia mạng lưới và sẽ được liên hệ với hướng dẫn cho các bước tiếp theo.
VUI LÒNG ẤN VÀO ĐÂY